Theo Blog bọ Lập, 9h sáng nay ngày 6/5/2010, tại bệnh viện Việt Xô thi sĩ Hoàng Cầm đã ra đi mãi mãi. Xin chia buồn cùng gia quyến.

Thi sĩ Hoàng Cầm
Tiểu sử
Thi sĩ Hoàng Cầm có tên thật là Bùi Tằng Việt, sinh ngày 22 tháng 2 năm 1922, tại xã Phúc Tằng, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang; quê gốc xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
* Xem thêm về thi sĩ Hoàng Cầm qua những tác phẩm, đóng góp của ông cho nền văn học nước nhà. Hoàng Cầm- Nhân văn giai phẩm.
Ông xuất thân trong gia đình nhà nho lâu đời. Thân sinh ông thi không đỗ, về dạy chữ Hán và làm thuốc bắc ở Bắc Giang. Tên ông được đặt ghép từ địa danh quê hương: Phúc Tằng và Việt Yên. Thuở nhỏ, ông học tiểu học, trung học đều ở Bắc Giang và Bắc Ninh; đến năm 1938, ra Hà Nội học trường Thăng Long. Năm 1940, ông đỗ tú tài toàn phần và bước vào nghề văn, dịch sách cho Tân dân xã của Vũ Đình Long. Từ đó, ông lấy bút danh là tên một vị thuốc đắng trong thuốc bắc: Hoàng Cầm.
Ông nổi tiếng với vở kịch thơ Hận Nam Quan, Kiều Loan và các bài thơ Lá diêu bông, Bên kia sông Đuống. Bài thơ Bên kia sông Đuống được chọn vào giảng dạy trong giáo trình trung học phổ thông.
Ngoài bút danh Hoàng Cầm ông còn có các bút danh: Bằng Việt, Lê Thái, Lê Kỳ Anh, Bằng Phi.
Viết ra đây hai bài thơ nổi tiếng của tác giả coi như tưởng nhớ đến Thi sĩ
Bên kia sông Đuống

Sông Đuống hoàng hôn
Em ơi!
Buồn làm chi
Anh đưa em về bên kia sông Ðuống
Ngày xưa cát trắng phẳng lỳ
Sông Ðuống trôi đi
Một giòng lấp lánh
Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ
Xanh xanh bãi mía bờ dâu
Ngô khoai biêng biếc
Ðứng bên này sông luyến tiếc
Sao xót xa như rụng bàn tay
Bên kia sông Ðuống
Quê hương ta lúa nếp thêm nồng
Tranh Ðông Hồ gà lợn nét tươi trong
Mầu dân tộc sáng bừng trong giấy điệp
Quê hương ta từ ngày khủng khiếp
Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn
Ruộng ta khô nhà ta cháy
Chó ngộ một đàn
Lưỡi dài lê xác máu
Kiệt cùng ngõ thẳm vườn hoang
Mẹ con đàn lợn chia lìa
Âm dương chia lìa đôi ngả
Ðám cưới chuột tưng bừng rộn rã
Bây giờ tan tác về đâủ
Ai về bên kia sông Ðuống
Cho ta gửi tấm the đen
Mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên
Những hội hè đình đám
Trên núi Thiên Thai
Trong chùa Bút Tháp
Giữa huyện Lang Tài
Gửi về may áo cho ai ?
Chuông chùa văng vẳng nay người ở đâu ?
Những nàng môi đỏ quết trầu
Những cụ già bay tóc trắng
Những em sột soạt quần nâu
Bây giờ đi đâu về đâu ?
Ai về bên kia sông Ðuống
Có nhớ từng khuôn mặt búp sen
Những cô hàng xén răng đen
Cười như mùa thu tỏa nắng
Chợ Hồ, chợ Sủi người đua chen
Biển Trầm Chỉ người giăng tơ nghẽn lối
Những nàng dệt sợi
Ði bán lụa mầu
Những người thợ nhuộm
Ðồng tỉnh Huê Cầu
Bây giờ đi đâu về đâu ?
Bên kia sông Ðuống
Mẹ già nua còm cõi gánh hàng rong
Dăm miếng cau khô
Mấy lọ phẩm hồng
Vài xếp giấy đẫm hoen sương buổi sớm
Chợt lũ quỷ mắt xanh trừng trợn
Khua giầy đinh đập gẫy quán gầy teo
Xì xồ cướp bóc
Tan phiên chợ nghèo
Lá đa lác đác trước lều
Vài ba vết máu loan chiều mùa đông
Ðêm buông sâu xuống giòng sông Ðuống
Con là ai ?
Con ở đâu về
Hé một cánh liếp
Con vào đây bốn bức tường tre
Lửa đen leo lét soi tình mẹ
Khuôn mặt bừng lên như vừng trăng
Ngậm ngùi tóc trắng đương thầm kể
Những chuyện muôn đời không nói năng
Ðêm buông sâu xuống giòng sông Ðuống
Ta mài lưỡi cuốc
Ta uốn lưỡi liềm
Ta vót gậy nhọn
Ta rũa mác dài
Ta xây thành kháng chiến ngày mai
Lao xao hàng cây bụi chuối
Im lìm miếu đổ chùa hoang
Chập chờn đom đóm bay ngang
Báo tin khủng khiếp
Cho giặc kinh hoàng
Từng từng tiếng súng vang vang
Trong đêm khuya thoảng cung đàn tự do
Thuyền ai thấp thoáng bến Hồ
Xóa cho ta hết những giờ thảm thương
Ðêm đi sâu quá giòng sông Ðuống
Trại giặc bắt đầu run trong sương
Dao lòe giữa chợ
Gậy lùa cuối thôn
Lúa chín vàng hoe giặc mất hồn
Ăn không yên
Ðứng không vững
Chúng mày phát điên
Và quay cuồng như trên đống lửa
Mà cánh đồng ta còn chan chứa
Bao nhiêu nắng đẹp mùa xuân
Xa xa tiếng hát về gần
Thợ cấy đánh giặc dân quân cày bừa
Tiếng bà ru cháu buổi trưa
Chang chang nắng hạ võng đưa rầu rầu
"Cha con chết trận từ lâu
Con càng khôn lớn càng sâu căm thù"
Tiếng ai cấy lúa mùa thu
Căm căm gió rét mịt mù mưa bay
"Thân ta hoen ố vì mày
Hồn ta thề với đất này dài lâu"
Em ơi! đừng hát nữa lòng anh đau
Mẹ ơi! Ðừng khóc nữa dạ con sầu
Ðể con đi giết giặc
Cánh đồng im phăng phắc
Lấy áo nó mặc vào người
Lấy súng nó đeo lên vai
Ðêm đêm mỗi lần mở hội
Trong lòng con chim múa hoa cười
Vì nắng sắp lên rồi
Chân trời xa rạng tỏ
Sông Ðuống cuồn cuộn trôi
Ðể cuốn phăng ra bể
Bao nhiêu xương máu
Bao nhiêu nước mắt
Bao nhiêu mồ hôi
Bao nhiêu bóng tối
Bao nhiêu cuộc đời
Bao giờ trở lại giòng sông Ðuống
Ta lại tìm em
Em mặc yếm trắng
Em thắt lụa hồng
Em đi trẩy hội non sông
Cười me ánh nắng muôn lòng xuân sang
------
Nhắc về một kỷ niệm và sự tích Lá diêu bông khi ra đời
Năm Hoàng Cầm lên 8 tuổi, từ tỉnh lỵ trọ học về thăm nhà bị "tiếng sét ái tình" khi gặp người con gái 16 tuổi tên Vinh. Tiếng sét ấy đã đi sâu vào trái tim, gần 70 năm sau, Hoàng Cầm tâm sự: "Trước mắt tôi, chị hiện ra sáng rực rỡ như một thiên thần. Ngay lập tức, hồn tôi bị chị chiếm đoạt đến đau điếng. Kể từ giây phút định mệnh ấy, tôi mê man chị chẳng còn biết trời đất, ất giáp, quên hết học hành, sách vở, suốt ngày chỉ ngong ngóng sang bên kia đường số 1, xê xế nhà tôi khoảng 20 mét, nơi thiên thần của tôi ngồi bán quán nghèo, phố nhỏ đìu hiu, tỉnh nhỏ... Tôi phải lòng chị, cứ thế giăng mắc tơ tình quanh chị suốt 4 năm trời, đến năm tôi 12 tuổi thì chị đi lấy chồng".
Một buổi chiều mùa đông... Chị Vinh đi về phía cánh đồng chiều còn trơ cuống rạ. Hoàng Cầm bí mật, lặng lẽ lần theo, thấy chị thẩn thơ tìm đồng chiều, lẩm bẩm một mình: Đứa nào tìm được Lá Diêu Bông, từ nay ta gọi là chồng...
25 năm sau, năm 1959, bài thơ Lá Diêu Bông của Hoàng Cầm mới ra đời.

Lá diêu bông
Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng
Chị thẩn thơ đi tìm
Đồng chiều,
Cuống rạ.
Chị bảo: Đứa nào tìm được Lá Diêu Bông
Từ nay ta gọi là chồng.
Hai ngày em đi tìm thấy lá
Chị chau mày:
Đâu phải Lá Diêu Bông.
Mùa Đông sau em tìm thấy lá
Chị lắc đầu,
Trông nắng vãn bên sông.
Ngày cưới chị
Em tìm thấy lá
Chị cười xe chỉ cắm trôn kim.
Chị ba con
Em tìm thấy lá
Xòe tay phủ mặt chị không nhìn.
Từ thuở ấy
Em cầm chiếc lá
Đi đầu non cuối bể.
Gió quê vi vút gọi.
Diêu Bông hời...
ới Diêu Bông!.
Lá Diêu Bông được Phạm Duy viết thành ca khúc vào giữa thập niên 1980. Đầu thập niên 1990, ở trong nước, Trần Tiến phổ biến bài nầy mang âm điệu dân ca, bình dân. Trần Tiến không hiểu được hồn của bài thơ, ngộ nhận nhân vật, nhưng làm nổi tiếng tên tuổi Lá Diêu Bông:
Lời ru buồn nghe mênh mông, mênh mông, sau lũy tre làng khiến lòng tôi xôn xao.
Ngày lấy chồng em đi qua con đê, con đê mòn lối cỏ về, có chú bướm vàng bay theo em.
Bướm vàng đã đậu cây mù u rồi, lấy chồng sớm làm gì để lời ru thêm buồn.
Ru em, thời thiếu nữ xa xôi; còn đâu bao đêm trăng thanh, tát gàu sòng vui bên anh.
Ru em, thời con gái kiêu sa, em đố ai tìm dược lá diêu bông, em xin lấy làm chồng...
----
Và nhắc đến Thi sĩ Hoàng Cầm, người ta lại nhớ ngay vỡ kịch thơ Hận Nam Quan,

Ải Nam Quan
.."Con yêu quý,chớ xuôi lòng mền yếu.
Gác tình riêng vỗ cánh trở về Nam.
Con về đi ,tận trung là tận hiếu.
Đem gươm mài bóng Nguyệt dưới khăn tang.
Nếu trời muốn cho nước ta tiêu diệt.
Thì lưới thù sẽ úp xuống đầu dân.
Về ngay đi ,rồi chí nguyện công thành.
Nghĩ đến Cha một phương trời ảm đạm.
Chỉ nghiến răng vung kiếm chém quân thù.
Trãi,con ơi tương lai đầy ánh sáng.
Cha đứng đây trong suốt được ngàn thu.
..Nghe Cha nói tương lai đầy ánh sáng.
Khiến lòng con bừng tinh một cơn mê.
Quỳ lạy Cha,Cha lên đường ảm đạm.
Rời Nam Quan theo gió con bay về.
Ôi sung sướng Trời cao chưa nỡ tắt .
Về ngay đi ghi nhớ hận Nam Quan.
Bến Kim Lăng cho đến ngày nhắm mắt.
Cha nguyện cầu con lấy lại giang san.
(Hận Nam Quan-Hoàng Cầm)
© haydanhthoigian